Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Nguyễn Thị Ánh Đào

CHIA SẺ CÙNG THẦY CÔ

Cô Nguyễn Thị Ánh Đào    

Trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật tỉnh Bến Tre 

57 Ấp Phước Thạnh II, Thành Triệu, Châu Thành, Bến Tre

27 năm đứng lớp với đối tượng là học sinh khuyết tật. Tôi luôn trăn trở, làm sao để truyền đạt kiến thức cho các em – những học sinh khuyết tật.

Có lẽ trong chúng ta, ai cũng vậy khi rời trường sư phạm để đi đến môi trường giáo dục thì lúc đó trong lòng chất chứa biết bao hoài bảo phải không?

Ngày đầu tiên từ 1 sinh viên Đại học mới bước chân đến Trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật (Lúc đó là Trung tâm bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội). Bỡ ngỡ vì đối tượng của tôi là học sinh bại liệt. Dạy thế nào đây? Nếu các bạn là tôi lúc đó chắc cũng như thế!

Những năm đầu tiên tuy có khó khăn trong giảng dạy vì các em đi đứng, sinh hoạt rất chậm, đối với học sinh bại liệt thì phương pháp dạy giống như học sinh phổ thông, tuy nhiên có nhiều em giáo viên phải dạy chậm hơn - dạy theo từng đối tượng học sinh, chú ý theo sát từng em một. Đến năm học 1993-1994 khi trường nhận thêm đối tượng học sinh khiếm thị, lúc này trong quá trình giảng dạy giáo viên gặp nhiều khó khăn. Đối với học sinh bại liệt đã khó, bây giờ đối với học sinh khiếm thị lại càng khó hơn, mà học sinh khiếm thị lại học hòa nhập cùng học sinh bại liệt. Nên qua từng năm, khi các em học lên các lớp cấp TH việc truyền thụ kiến thức cho các em càng gặp nhiều phức tạp (đối với tất cả các môn học). Cho nên vừa dạy tôi vừa tìm phương pháp dạy cho phù hợp và tích cực với từng đối tượng học sinh. Bằng thực tế đi tham quan nhiều trường đặc biệt và dự những cuộc thi làm đồ dùng dạy học cho học sinh khiếm thị. Tôi thấy rằng cần phải khai thác triệt để khả năng đôi bàn tay, đó chính là đôi mắt của các em. Nên tôi đã tìm nhiều phương pháp để kết hợp giữa thính giác và xúc giác (là giáo viên nói - học sinh nghe kết hợp với giáo viên cầm tay hướng dẫn - học sinh dùng tay để sờ) giúp học sinh dễ hiểu hơn.

Là giáo viên dạy môn Địa l‎ý khi gặp những kiến thức như thời tiết, khí hậu, bão, … tôi có thể dùng lời để miêu tả cho học sinh nghe thì các em hiểu được. Những bài dùng la bàn, thước tỉ lệ,… tôi đã dùng vật thật, cầm tay cho học sinh sờ vật thì các em mới hiểu và biết. Còn những bài về thế giới, các châu lục, các nước trên thế giới, Việt Nam, địa phương Bến Tre,… khi tôi miêu tả, các em chỉ nghe thôi mà không nhận ra, không biết châu đó ở đâu, nước đó ở dâu,... trên thế giới; núi, sông, đồng bằng, cao nguyên,... mà tôi nói đến nằm ở châu nào, khu vực nào,... Lúc đó tôi thấy các em rất mơ hồ và không hiểu được vấn đề, có em còn hiểu sai vấn đề mà tôi muốn nói. Các em có muốn tự tìm hiểu, tự nghiên cứu thêm ngoài giờ lên lớp cũng không có tài liệu…. Chính vì lẽ đó mà tôi đã làm nhiều bản đồ nổi về thế giới, bản đồ từng châu lục, bản đồ Việt Nam… Làm các bộ lắp ráp về Lịch sử, Địa lý… để áp dụng trong giảng dạy cho học sinh khiếm thị học cùng học sinh sáng. Tôi đã kết hợp giữa truyền thụ kiến thức cho các em học sinh bằng sự kết hợp giữa lời nói với đồ dùng dạy học và kiến thức cơ bản nhất. 

Ngoài ra tôi thấy mình cần phải tích lũy, bổ sung tư liệu mỗi ngày cho kiến thức cũng như phương pháp dạy. Trong một môi trường càng ngày càng có Học sinh với nhiều dạng tật: Bại liệt, Khiếm thị, Chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính… Mỗi đối tượng một yêu cầu, mỗi đối tượng một cách truyền thụ kiến thức khác nhau. Các em cần kiến thức từ sách giáo khoa có khi lại bằng hình ảnh, có khi bằng vật thật, có khi là một đoạn văn, hay bằng đồ dùng dạy học mà bản thân tôi phải tự làm, tự sưu tầm, tự tìm hiểu….

Trong từng bài học tôi đã có sự chọn lọc, sửa đổi, bổ sung, lưu giữ tư liệu để áp dụng đối với từng đối tượng Học sinh làm sao cho các em có thể nắm được nội dung của bài học, của chương trình học một cách hiệu quả nhất. Đây còn là vấn đề mà tôi đã rút ra từng ngày - có cách chọn lọc, tích lũy tư liệu càng phù hợp với yêu cầu của từng  đối tượng Học sinh. Làm cho sự truyền thụ của tôi khi dựa vào những tư liệu đó giúp cho cả Học sinh sáng lẫn Học sinh khiếm thị, Học sinh bại liệt lẫn Học sinh Chậm phát triển trí tuệ đều có thể hiểu được vấn đề mà tôi muốn đề cập đến. 

Đó là những tư liệu về hình ảnh, hiện vật, đồ dùng dạy học, các thuật ngữ, các đoạn văn… Mà tôi phải thu thập từng chút một qua nhiều năm rút kinh nghiệm rồi làm đi làm lại nhiều lần. Tiếp tục tích lũy để làm tư liệu suốt quá trình giảng dạy.

Trong quá trình giảng dạy tôi đã không ngừng đổi mới phương pháp kết hợp với việc tích cực làm đồ đùng dạy học nổi. Học sinh khuyết tật là những học sinh bị mất một phần khả năng vận động, nghe, nhìn hoặc viết rất chậm… dẫn đến hạn chế nhiều trong quá trình học tập. Học sinh của một lớp có nhiều mức độ tiếp thu khác nhau, một em là một đặc điểm trong quá trình phát triển.  Bản đồ, lược đồ nổi kết hợp với phương pháp của tôi giúp các em hòa nhập cùng nhau hơn. Tất cả đều cần sự kết hợp chặt chẽ giữa bản đồ, lược đồ và nghệ thuật dạy học của người thầy giáo. Dùng bản đồ, lược đồ trong dạy học là cần có sự tìm tòi nghiên cứu kĩ, cho nên khi dạy học trò tôi đã áp dụng bản đồ vào lúc thích hợp và vận dụng bản đồ, lược đồ thêm ngoài giờ dạy, vì các em còn cần tìm hiểu thêm các kiến thức khác ngoài nội dung bài học.

Tôi còn chú ý đến vấn đề phải tạo được sự hứng thú lôi cuốn Học sinh, phải sử dụng kết hợp bản đồ và tranh ảnh xuyên suốt trong năm học từ đó hạn chế được việc học thuộc lòng và cách nhớ máy móc. Có nghĩa là hướng dẫn các em biết cách vận dụng linh hoạt và khai thác kiến thức địa lí từ bản đồ, lược đồ một cách lôgic. Mặt khác tôi thường xuyên liên hệ với đồng nghiệp ở trường ngoài để học hỏi các phương pháp dạy học tốt, nâng cao chất lượng dạy học cho Học sinh. 

Ở trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật 1 giáo viên phải dạy nhiều lớp nên kiến thức của chương trình mang tính liên tục, người giáo viên phải tìm hiểu chuyên môn của mình một cách xuyên suốt. Cho nên trong suốt quá trình giảng dạy của mình tôi đã kết hợp giữa đồ dùng dạy học với phương pháp giảng dạy. Nhưng đối với tôi điều quan trọng hơn hết vẫn là phải luôn yêu thương và có tinh thần trách nhiệm đối với các em Học sinh của mình chỉ mong sao các em tàn mà không phế. 

Từng năm trôi qua nhìn các em ra trường hòa nhập cùng cuộc sống, có kiến thức để làm việc và sống tốt. Không phải riêng bản thân tôi mà tôi nghĩ rằng tất cả sự cố gắng của thầy cô, cán bộ nhân viên Trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật Bến Tre thật sự có ích cho xã hội. 

Trên đây là những chia sẻ của cá nhân tôi đến các bạn đồng nghiệp mong nhận được sự góp ý của các bạn để quá trình giảng dạy của tôi càng tốt hơn. 

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Hoàng Thị Huyên
Thầy Võ Duy Quang
Cô Nguyễn Thị Diệu Hằng
Cô Nguyễn Thị Hòa
Thầy Nguyễn Thái Dương