Tin tức & Sự kiện

Băng rừng, lội suối

Trong chuyến công tác khảo sát một số trường học vùng biên và đồn biên phòng khó khăn tại các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng do Thiếu tướng NGND.TS Nguyễn Thiện Minh – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Quốc phòng (Bộ GD&ĐT) dẫn đầu, cùng đi có đại diện Bộ tư lệnh Biên phòng (Bộ Quốc phòng), cùng các đơn vị tài trợ, chúng tôi đã đặt chân đến vùng Tây Bắc giáp ranh biên giới.

Chúng tôi không khỏi xúc động trước hình ảnh những đứa trẻ còi cọc, chân đất đứng cheo leo trên vách đá, trước tình quân dân như cá với nước của các anh bộ đội biên phòng với bà con dân bản; cảm động trước những giọt nước mắt của thầy, cô giáo vùng cao kiên trì, bản lĩnh và đầy hi sinh.

 Thiếu tướng NGND.TS Nguyễn Thiện Minh khảo sát trường học tại xã Pa Tần, Sìn Hồ, Lai Châu.

Thiếu tướng NGND.TS Nguyễn Thiện Minh khảo sát trường học tại xã Pa Tần, Sìn Hồ, Lai Châu.

Tại tỉnh Lai Châu đoàn đã đến khảo sát điểm trường tại bản Nặm Tần Mông 1 của Trường tiểu học Pa Tần (huyện Sìn Hồ). Nặm Tần Mông 1 là điểm trường cao nhất, xa nhất trong tất cả các điểm trường thuộc Trường Tiểu học Pa Tần, và tất cả các điểm trường đều có một nét chung, để đến được đó, chỉ có một cách duy nhất: băng rừng, lội suối.

Con đường dài 20 km đến bản Nặm Tần Mông trơn như đổ mỡ, chúng tôi không thể nhớ rõ mình đã trượt chân bao nhiêu lần trên con đường ấy. Những con suối chảy siết, những con dốc cao chót vót, dựng đứng một bên là rừng, một bên là vực sâu, chỉ cần một chút bất cẩn, trượt ngã sẽ rất nguy hiểm.

Anh Kiên (giáo viên trường Tiểu học Pa Tần) cho biết, Pa Tần là một điểm nghèo, khó khăn, cách xa trung tâm thành phố, đường đến lại gập ghềnh, sóng điện thoại rất yếu, nhiều nơi không có điện. Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc Mông, Thái. Việc vận động học sinh tới trường là một điều không hề giản đơn. Đặc biệt, vào những ngày mùa, học sinh theo cha mẹ lên nương rẫy hết. Đặc biệt, có những em phải bộ 7-8 km đường rừng mới tới được trường học.

Anh Kiên cho biết thêm, những ngày mưa, đường trơn trượt, lầy lội, các thầy, cô giáo vùng cao phải tự lấy xích quấn vào những bánh xe để vượt qua vài con dốc dài dựng đứng đường đất đỏ, để tới những ngôi trường nằm cheo leo trên triền đồi, còn những ngày nắng thì lại bụi mù mịt. Theo anh Kiên, hình ảnh những chiếc xe quấn xích chính là sáng kiến, là bản lĩnh, là tâm huyết với nghề của những giáo viên vùng cao kiên cường.

Nhắc đến chuyện về thăm quê, giọng anh Kiên trầm xuống, sống mũi như cay cay. Anh tâm sự, ngày trước, mỗi lần muốn về quê, phải mất 3-4 ngày mới bắt được xe. Khó khăn đi lại là một chuyện, còn kinh tế nữa, đồng lương giáo viên hạn hẹp, mỗi chuyến về thăm quê lên ít cũng mất vài triệu. Nhưng không phải lúc nào cũng thuận lợi, lúc thì mưa bão, lúc hỏng xe, đi mấy chặng mới về được đến nhà, thậm chí đến cả người thân mất cũng không về kịp. Có trường hợp giáo viên trong trường chồng mất, do đường xa, mưa rét về đến nơi thì đã muộn rồi

Chia sẻ về cuộc sống sau những giờ lên lớp, thầy Hoàng bộc bạch: “Chúng tôi trồng rau nhưng khô cằn quá nên không mọc nổi. Thỉnh thoảng người dân mang sang cho bó rau rừng là quý lắm, chứ ở đây suốt ngày làm bạn với cá khô thôi”

Theo các giáo viên ở ngôi trường Nậm Tầm Mông 1 hiện có 5 lớp học với 70 học sinh, vì đường quá xa xôi cách trở nên 1 tuần hay 2 tuần, khi có việc về xã, các thầy mới tranh thủ mua thật nhiều cá khô, thịt, rau… để dành rồi muối ăn dần.

Khó, vất vả là vậy, nhưng đa phần mọi người đều quyết tâm bám đất vì họ xác định “đến đây phải ở lại đây, bao giờ bén rễ xanh cây mới về”. Thế nên, họ đã khắc phục tất cả những gian nan về đường sá đi lại, thiếu thốn về vật chất, tinh thần, để “cõng chữ” đến với những học trò miền biên giới.

Chứng kiến những khó khăn ấy, Thiếu tướng NGND.TS Nguyễn Thiện Minh cho biết, đường vào bản Nặm Tần Mông (huyện Sìn Hồ) là trải nghiệm đường sá nguy hiểm nhất ông từng đi.

Nơi ấy, vùng biên giới gió lộng thường kèm theo những cơn mưa rừng bất chợt đã bao đêm khiến các thầy, cô phải thao thức, đã nhiều đêm đông lạnh khiến họ chỉ biết tìm ngọn lửa làm bạn thâu canh với căn phòng nhỏ hẹp bốn bề quây liếp, chẳng che được gió trời và những hạt mưa. Để rồi những chữ “i tờ” gieo dần vào đầu bọn trẻ Mông, Thái từ những người thầy dũng cảm đến với bản giáp nơi biên giới, nằm cheo leo, cách trở trên lưng chừng trời.

Đã nhiều năm nay, thầy giáo Mạnh, cùng 4 giáo viên khác phải sống trong một căn phòng tạm bợ. Mọi sinh hoạt cá nhân đến việc soạn bài lên lớp đều gặp rất nhiều khó khăn do căn phòng chật hẹp, khi nắng hè thì oi bức, khi trời mưa thì bị dột xuống cả giường ngủ. Nhưng có lẽ khó khăn mãi cũng phải quen, cuộc sống của thầy Mạnh cũng như nhiều giáo viên khác cứ đều đặn trôi qua như vậy, và luôn cố gắng làm tốt công tác giảng dạy của mình. Thầy Mạnh tâm sự: “Một số giáo viên may mắn hơn thì nhờ được nhà dân để ở...”

đoàn công tác tại điểm trường Nậm Tần Mông 1 ( xã Pa Tần, Sìn Hồ, Lai Châu)
đoàn công tác tại điểm trường Nậm Tần Mông 1 ( xã Pa Tần, Sìn Hồ, Lai Châu)

Những mong ước nhỏ nhoi

Cũng trong chuyến công tác, chúng tôi đến thăm các điểm trường tiểu học Mường Cai (xã Mường Cai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La), chúng tôi không khỏi xúc động khi chứng kiến cảnh cô trò cùng học tập trong những căn nhà tạm bợ, thiếu thốn đủ bề. Những đứa trẻ lớn lên trong nghèo khó, còn các giáo viên cắm bản đang ở trong những phòng tạm được xây trên nền đất, vách thưng gỗ tạp, lợp tấm fibro xi măng.

Trường tiểu học có đến 12 điểm trường nằm rải khắp các bản. Ở đây, ngoài vấn đề trường lớp được dựng tạm, điều kiện sinh hoạt hết sức thiếu thốn, thì nguồn nước sinh hoạt vẫn chưa có khiến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ càng khó khăn, vất vả hơn. Mọi gánh nặng gần như đổ lên đôi vai của người giáo viên cắm bản.

Toàn cảnh nhà công vụ tại trường Tiểu học Mường Cai ( xã Mường Cai, Sông Mã, Sơn La)
Toàn cảnh nhà công vụ tại trường Tiểu học Mường Cai ( xã Mường Cai, Sông Mã, Sơn La)

Thế mà bao năm nay, cô giáo Huyền vẫn một lòng gắn bó với điểm trường, vừa chăm lo, vừa nuôi dạy các em nhỏ ở thôn bản nghèo khó này. Cô Huyền chỉ ước điểm trường sớm nhận được sự quan tâm từ các cấp chính quyền đầu tư xây dựng trường học khang trang, có thêm nhà ở công vụ cho giáo viên để công tác dạy học, chăm sóc con em dân bản ngày một tốt hơn.

Cũng giống như nhiều cô giáo miền xuôi lên miền ngược công tác, cô giáo trẻ Oanh - giáo viên trường Tiểu học Mường Cai có hơn 5 năm dạy học tại các điểm trường lẻ, đến dạy học ở đâu cô cũng phải mượn nhà tạm của dân để ở và sinh hoạt. Bởi vậy, mong muốn lớn nhất của cô là có một ngôi nhà công vụ dành cho giáo viên

Đáng lo, tình trạng nhiều cơ sở giáo dục tiểu học trên địa bàn các xã vùng đặc biệt khó khăn còn chưa được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học… đang khiến công tác phổ cập tiểu học khó hoàn thành mục tiêu đề ra. Trong đó, vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay là số lượng lớp học ghép trên địa bàn vẫn còn khá nhiều, tại nhiều điểm trường giáo viên chưa có nhà công vụ, số lượng lớp ghép 2-3 trình độ chiếm tỷ lệ cao... Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.

Đơn giản, các cô giáo chỉ mơ một căn phòng hẹp để cho những trang giáo án không bị mưa làm dột ướt, không phải thâu đêm với bếp lửa để xua tan cái lạnh. Bao năm “cắm bản” các cô đã hiểu rằng, góc núi cách trở giữa trời Tây Bắc nghìn trùng, cuộc sống thiếu thốn đủ bề, đến những bữa ăn đôi khi chỉ có cá khô đưa cơm... nhưng gian khó ấy không nhấn chìm những ước mơ lạc quan trong cuộc sống của những cô giáo trẻ, các cô vẫn lên lớp hàng ngày. Năm tháng sống trong giản dị, các cô giáo luôn phải tìm cách biến những vất vả làm niềm vui trong cuộc sống…

Cũng qua khảo sát và lắng nghe ý kiến của Sở GD&ĐT, của nhà trường và chính quyền địa phương, đoàn công tác đã đồng ý với chủ trương hỗ trợ đầu tư cho nhiều nhà trường công trình nhà ở công vụ cho giáo viên và khu nhà lớp học.

Gian nan, cơ cực, thiếu thốn nhường đó, nhưng chúng tôi tự hỏi vì sao họ vẫn vượt qua và gắn bó với vùng đất này? Đi tìm lời giải cho thắc mắc của bản thân, chúng tôi không khỏi xúc động khi đều nhận được những lời giải thích rất mộc mạc, nhưng đầy lạc quan: Khó khăn nào rồi cũng qua thôi; nếu ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, ở nơi sung sướng thì gian khổ biết dành phần ai; lớp người đi trước vất vả để cho con cháu mình được hạnh phúc...

 

Lê Bình (Nguồn: Báo Đất Việt)

Bình luận

Họ tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)