Gương giáo viên tiêu biểu

Thầy Hà Thanh Sơn

Thầy Hà Thanh Sơn

Chuyện người thầy giáo vùng biên “đi dân nhớ, ở dân thương”

Suốt 14 năm gắn bó với giáo dục huyện nghèo vùng biên Quan Sơn (Thanh Hóa), thầy giáo Hà Thanh Sơn cùng đồng nghiệp đã không quản ngại khó khăn, bám lớp, bám trường, dìu dắt bao thế hệ học trò thành đạt nơi miền ngược để xứng đáng với câu nói “đi dân nhớ, ở dân thương”.

Năm 2001, sau khi tốt nghiệp, thầy Hà Thanh Sơn được phân công công tác tại trường tiểu học Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đây là ngôi trường đóng trên địa bàn biên giới giáp với nước bạn Lào và là ngôi trường khó khăn nhất của huyện Quan Sơn với nhiều khu lẻ cách xa trung tâm xã, giao thông đi lại khó khăn, không có điện, sóng điện thoại.

Về với ngôi trường tiểu học Sơn Thủy, thầy được phân công nhiều năm dạy học ở các khu lẻ Mùa Xuân, Xía Nọi có 100% là người dân tộc H’Mông sinh sống. Nhớ lại quãng thời gian khó khăn đó, thầy Sơn chia sẻ: “Điểm trường cách xa khu chính đến 20km, giao thông đi lại khó khăn. Phải đi bộ trèo đồi, vượt suối hàng ngày trời theo đường rừng mới lên đến bản có điểm lẻ của trường. Khi đến bản, tất cả kênh thông tin liên lạc với người thân, bạn bè đều không có. Ngôi trường và nhà tạm bợ ở của giáo viên lợp bằng tranh nứa đơn sơ, không có điện mà phải thắp bằng đèn dầu, có hôm hết dầu phải đốt củi lấy ánh sáng để soạn bài. Đêm đến thiếu chăn, thiếu màn, vào mùa đông những đợt gió rét cắt da, cắt thịt không sao ngủ được, buồn nhớ nhà, nhớ người thân. Anh em phải dậy đốt lửa để sưởi ấm. Bên cạnh đó, cư dân nơi đây đều là người dân tộc H’Mông vẫn giữ tập quán tự cung tự cấp, không có hàng quán nên thiếu thốn nhu yếu phẩm. Có thời gian cả tháng trời, chúng tôi phải ăn cá khô với rau rừng. Ngôn ngữ thì bất đồng khiến cuộc sống hàng ngày của giáo viên càng thêm vất vả…”

Đối diện với sự thiếu thốn cơ sở vật chất và cuộc sống thiếu thốn của vùng biên, thầy vẫn không hề nản lòng mà cùng chung sức với anh em đồng nghiệp tham mưu và tư vấn với Ban quản lý và bà con nhân dân góp sức ngày công lao động để sửa sang trường lớp kiên cố hơn. Rồi cùng tổ chức đắp đập, ngăn suối đặt máy tua pin phát điện sáng để phục vụ cho việc dạy học và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Thầy cũng cùng đồng nghiệp làm vườn rau, chăn nuôi thêm gà, vịt và tranh thủ ngày nghỉ cùng với thanh niên trong bản đi suối thả lưới bắt cá để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Có năm thầy đưa giống gà, vịt để cung cấp cho bà con chăn nuôi tới hàng trăm con. Vì vậy, dần dần cuộc sống bà con dân bản cũng đỡ khó khăn hơn trước.

Vượt qua những trở ngại trên, thầy cùng các đồng nghiệp lại phải đối mặt với vấn đề khó khăn từ phía học sinh. Các em đều là con em các gia đình đông con, nghèo khó nên thường xuyên bỏ học theo bố, mẹ đi làm nương rẫy hoặc phụ giúp trông em. Phụ huynh thì vẫn chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học nên ít quan tâm, đốc thúc các em học hành. Trước tình hình đó, thầy và các đồng nghiệp thường xuyên cùng Ban quản lý đến từng nhà động viên giúp đỡ mua sách vở, hỗ trợ thêm quần áo để các em tiếp tục đến trường. Năm học 2002-2003, trong lớp ghép 4+5 của thầy ở khu Xía Nọi có em Sung Văn Hơ học sinh lớp 4 bỏ học vì bố ốm yếu, nhà đông anh em, điều kiện gia đình khó khăn. Sau khi tìm hiểu và biết được thông tin, thầy và đồng nghiệp đã đến tận nhà, thăm hỏi, động viên và giúp đỡ nên em học sinh đó đã có thể đến trường trở lại.

Song song với đó, thầy liên tục tìm tòi, đưa ra các phương pháp dạy học thiết thực,  gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em học sinh để các em dễ hiểu bài và thích thú với việc học hơn. Để làm được như vậy, thầy Sơn cũng cầm vở học tiếng của đồng bào H’Mông với các phụ huynh để có thể giảng dạy song ngữ, dạy học sinh tiếng Việt qua các từ ngữ thân thuộc với cuộc sống. Ví dụ như từ “cái bát”, nhiều khi học sinh không biết là cái gì. Thầy liền dùng tiếng H’Mông để giải nghĩa cho các em “cái bát”là “lú tị”, “cái đĩa” nói tiếng H’Mông là “lú phé”, rồi từ “con lợn”, “con gà”… Bằng hình thức này các em hiểu bài tốt hơn và thích đi học hơn. Không chỉ đổi mới phương pháp dạy học ở trên lớp, vào mỗi tối, thầy còn thường xuyên đến nhà giúp các em củng cố thêm kiến thức bị hổng. Từ đó, các em học tập tiến bộ, tự tin hơn trong giao tiếp với thầy cô.

Với lòng nhiệt huyết với nghề, yêu thương học sinh, thầy cùng các đồng nghiệp đã kiên trì “cắm bản” truyền thụ kiến thức suốt 10 năm. Điều làm thầy cảm thấy tự hào và không uổng phí nỗ lực, công sức đã bỏ ra đó là được chứng kiến những học sinh của mình thành đạt. Không giấu được niềm vui trong ánh mắt, thầy Sơn chia sẻ: “Trong lớp thế hệ học sinh mình đã đừng dìu dắt có em Thao Phị Pa Nhe hiện là giáo viên tiểu học đang công tác tại huyện Mường Lát. Em Thao Văn Lâu là bộ đội biên phòng đang công tác ở Pù Nhi, Mường Lát, và nhiều học sinh khác thành đạt đang làm việc tại địa phương. Bên cạnh đó còn có các em đã và đang tham gia học ở các trường chuyên nghiệp. Được chứng kiến những học sinh của mình trưởng thành và đạt được thành tựu, đó chính là niềm tự hào và là nguồn động viên khôn xiết để những thầy cô giáo vùng biên như mình tiếp tục phấn đấu, hiến dâng cho sự nghiệp “trồng người” ở nơi tràn ngập khó khăn như thế này”.

Năm học 2014 - 2015, thầy được điều chuyển về khu trường chính công tác. Khi chia tay với điểm trường lẻ, thầy xúc động không thôi khi được các em học sinh trìu mến gọi tên thầy “Sơn Mông” và cảm nhận được tình cảm yêu mến, nỗi quyến luyến của bà con dân bản như đang phải chia xa một thành viên trong gia đình. Nhờ những nỗ lực, cống hiến không biết mệt mỏi cho giáo dục các bản vùng biên, thầy đã được nhận giấy khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học của Giám đốc Sở GDĐT, Trưởng phòng Phòng GDĐT năm học 2009 – 2010, 2012 – 2015; giấy khen thành tích xuất sắc trong các phong trào yêu nước giai đoạn 2010 – 2014 của Chủ tịch UBND huyện…

Từ những năm tháng rèn luyện trong hành trình “gieo chữ” vùng biên cương, thầy Sơn luôn tự nhủ bản thân câu nói “Đi dân nhớ, ở dân thương” để học tập, lao động xứng đáng với lương tâm và trách nhiệm của một người giáo viên, cống hiến cho sự nghiệp giáo dục vùng cao Sơn Thủy nói riêng vào giáo dục Quan Sơn nói chung.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Cô Lò Thị Hằng
Thầy Lê Đình Thường