Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Nguyễn Thị Nở

Cô Nguyễn Thị Nở

Ngọn lửa nhiệt huyết của cô giáo vùng cao

Hơn 13 năm gắn bó với giáo dục vùng cao, cô giáo Nguyễn Thị Nở luôn tận tâm, tận lực truyền dạy kiến thức cho các em học sinh bằng nhiều biện pháp hiệu quả khác nhau và đã được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp trường, danh hiệu “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” nhiều năm liền.

Năm 2003, cô Nguyễn Thị Nở nhận phân công làm chủ nhiệm lớp ghép 4+5 tại điểm lẻ bản Tang thuộc trường tiểu học Trung Thành, xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Bản Tang nơi cô công tác có địa thế hiểm trở, nằm sát vùng sông Mã, cách đường chính 5km, đường đi lại quanh co có nhiều hốc đá. Cuộc sống của các gia đình người Mường nơi đây rất khó khăn, phong tục tập quán còn cổ hũ vì dân trí thấp, thậm chí nhiều hộ dân vẫn chưa thoát nạn mù chữ. Bữa cơm chỉ có sắn ngô với lá đu đủ làm rau, học sinh phải đi chân trần đến trường, quần áo thì tuềnh toàng, rách rưới. Đồ dùng học tập chẳng có gì ngoài quyển vở và cây bút. Lớp học ở đây vẫn chưa có nên các em phải học dưới gầm sàn của nhà dân.

Ý thức được những trở ngại này, cô luôn chủ động tiếp cận với bà con dân bản và tuyên truyền, thuyết phục để họ hiểu biết về cuộc sống thiếu thốn là do con người chưa có kiến thức khoa học, chưa biết áp dụng vào cuộc sống lao động để họ hiểu cách duy nhất để vươn lên thoát nghèo đó là bản thân họ và con cái họ phải học cái chữ. 

Vậy là bên cạnh giảng dạy cho các em học sinh, cô tổ chức lớp học xóa mù chữ người dân tại bản vào tối thứ bảy hàng tuần. Còn tối thứ năm hàng tuần, cô lại nhờ các em học sinh đến nhà giúp mình học tiếng Mường để dễ dàng trò chuyện, tìm hiểu tâm tư tình cảm và từ đó giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho các học viên hiệu quả hơn.

Đối với lớp học cho học sinh tại bản, cô luôn tận tụy giảng dạy cả ngày, cho các em tiếp xúc với nhiều loại hình văn bản để các em luyện đọc cho tốt, học sinh nào chưa biết đọc, chưa thuộc cái chữ cô dạy lại từ lớp 1. Cô dạy cho các em cái đơn giản là nhớ bảng cộng bảng trừ dần dần áp dụng vào tính toán các bài đơn giản. Buổi tối thứ 5 cô mời các em đến nhà dạy cô tiếng Mường, cô dạy các em nói tiếng chung.

Cứ như vậy cuối năm học, lớp cô chủ nhiệm có nhiều học sinh khá giỏi nhất trường. Các em đã biết làm toán và viết văn rất hay, rất cảm xúc. Điều đáng nhớ là có một học sinh lớp 5 không biết cái chữ nhưng dưới sự dìu dắt của cô đến cuối lớp 5, em đó đã đọc thông thạo và biết tính toán. Cách tổ chức dạy và học đã đi vào quy củ, người dân dần yêu mến, tin tưởng cô và ý thức được việc học tập của con em mình nên việc học sinh bỏ học không còn diễn ra nữa. Vì thế, suốt 3 năm liền học sinh lớp cô luôn có kết quả học tập tốt. 

Đến năm 2006, cô lại được điều chuyển về chủ nhiệm lớp ghép 2+5 với tổng số 10 học sinh tại điểm trường ở bản Trung Thắng. Bản chạy sát theo đường suối Quýt, đường sá hay bị sạt lở, rất khó khăn cho việc đi lại của các em học sinh. Điểm trường cách trường chính 5km, người dân nơi đây chủ yếu là người Thái sống bằng nghề trồng trọt, săn bắn. Cũng vì vậy, điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất nơi đây cũng khó khăn không kém bản Tang. Tuy học sinh lên lớp 2 nhưng các em vẫn chưa biết đọc, khả năng tập trung của các em chưa tốt nên không nhớ được những kiến thức đã được dạy và học. Việc tổ chức tuyên truyền về công tác giáo dục có phần khó hơn vì nhiều gia đình sống ở lều ao. Muốn vào được nhà dân, cô phải qua một con suối to, nước chảy xiết. Nhưng cô Nở đã không ngại khó, ngại khổ chèo đèo, lội suối đến từng gia đình để động viên họ cho con em tới trường. Đồng thời, cô cũng trau dồi cho mình tiếng Thái để có thể giảng dạy song ngữ giúp các em tiếp thu bài một cách hiệu quả hơn. Không những thế, cô cũng chủ động tách lớp ghép cho học hai buổi để áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh hơn. Vì thế suốt 3 năm liền, số học sinh khá giỏi lớp cô chiếm 83%. 

Đầu năm 2009, cô tiếp tục được điều chuyển về công tác tại điểm lẻ bản Phai nằm trên một quả đồi cách trường chính 3km. Người dân nơi đây thưa thớt chủ yếu sống ở các triền cát ven sông Mã, kiếm ăn bằng nghề quăng chài. Cuộc sống thiếu thốn, bữa ăn chính của họ đa phần là cơm sắn và rêu. Vì thế, việc học tập của con cái không được quan tâm, học sinh lớp 1 chưa nhớ được chữ cái và số. 

Lần đầu tiên chủ nhiệm lớp 1 nên có nhiều bỡ ngỡ, thời gian đầu, cô dạy cho học sinh thuộc hết bảng chữ cái, chữ số, dạy học sinh cách cầm bút, cách giao tiếp bằng tiếng Việt. Cô dạy cả ngày, cả tối, có những hôm trời mưa cô trò ăn cơm cùng, chiều lại học luôn. Cô cầm tay dẫn dắt học sinh viết từng nét bút cơ bản, có những học sinh cô phải dạy 1 tuần mới viết được 1 chữ cái nhưng cô không nản chí mà vẫn ân cần, nhẹ nhàng giúp đỡ, chỉ dẫn các em từng li từng tí. Học xong chữ nào cô lại viết chữ đó cho gia đình dạy các em ở nhà. Cô tổ chức cho các em tự học nhóm, tập đọc, tập viết. Cuối buổi học cô giao bài về nhà bằng cách viết mẫu mỗi buổi, kiểm tra liên tục bằng nhiều hình thức nghe, nói, đọc, viết…

Cứ như thế dần dần các em nắm vững được âm vần và nhớ được bảng cộng, bảng trừ nên cuối năm học, lớp cô đạt 86% học sinh khá giỏi. Suốt 3 năm, lớp 1 cô chủ nhiệm luôn đạt kết quả tốt, được Phòng Giáo dục kiểm tra và đánh giá cao. 

Từ năm 2013 đến nay, cô được phân công dạy tại điểm trường khu Trung Tâm, cách trường chính 7km. Mặc dù đường đi lại thuận hơn các bản khác nhưng cái khó khăn ở đây là sự bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trò khi cô phải giảng dạy kiến thức lớp 1 cho học sinh người H’Mông chưa từng tiếp xúc với tiếng Việt vì không qua lớp mầm non. Để giải quyết vấn đề này, cô đã quyết định tìm gặp trưởng bản, nhờ ông dẫn lên xã thăm bà con bản Buốc Hiềng cách khu Trung Tâm khoảng 3km. Cuộc sống người dân nơi đây nghèo túng, khổ cực vô cùng, nhà ở chỉ tranh tre, vách nứa. Cô gặp phụ huynh để trao đổi tình hình khó khăn và thuyết phục họ đi kèm con em mình mỗi sáng đến trường để phiên dịch cho các em hiểu những kiến thức cô giảng dạy. Bản thân cô cũng phải mua tài liệu sách tiếng H’Mông về học cả đêm, học những từ cơ bản nhất để giao tiếp với các em. 

Cứ như thế gần 2 tháng trời, các em đã biết hỏi cô, biết lệnh đọc theo và viết theo cô giáo nên không cần phụ huynh phải đi theo đến trường. Cô dạy các em miệt mài, dẫn dắt, cầm tay suốt cả gần một học kỳ. Nhờ thế, học sinh lớp cô khi kiểm tra lên lớp cuối năm đạt 100%. Năm học 2014-2015, lớp cô chủ nhiệm được đoàn kiểm tra của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đánh giá cao về chất lượng.

Trong suốt quá trình 13 năm gắn bó với giáo dục huyện nghèo, nhờ lòng quyết tâm vượt khó và tìm tòi sáng tạo trong công việc giảng dạy, cô Nguyễn Thị Nở đã được công nhận danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi cấp trường” nhiều năm liền từ 2003 – 2009; “Giáo viên dạy giỏi cấp huyện” nhiều năm liền từ 2010 – 2013; “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” năm học 2012 - 2013; “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” nhiều năm liền từ 2009 – 2014”… Dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đang đợi ở phía trước nhưng cô vẫn tin tưởng sẽ tiếp tục chèo lái các em thành công cập bến bờ tri thức để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn bởi cô luôn tâm niệm: “Dù công tác ở miền xuôi hay vùng khó khăn, với lương tâm nghề nghiệp và lòng nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ thì sẽ đạt được kết quả cao trong công tác giảng dạy”.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Cô Lò Thị Hằng
Thầy Lê Đình Thường