Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Nguyễn Thị Kim Loan

5 năm băng rừng, lội suối của cô giáo vùng cao

5 năm băng rừng, lội suối, vượt qua con đường dốc đá để đến với học sinh thân yêu nhưng cô giáo Nguyễn Thị Kim Loan vẫn kiên trì với nghề và nguyện đem hết sức mình chăm lo giáo dục tiểu học của huyện nghèo Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi chỉ với mong ước các em có thể bắt kịp kiến thức, có nền tảng vững chắc để bước tiếp vào các bậc học sau này.

1/4/2008, cô Nguyễn Thị Kim Loan chuyển công tác từ trường tiểu học thị trấn Trà Xuân về trường tiểu học số 1 Trà Sơn thuộc xã đặc biệt khó khăn của huyện nghèo Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Ngôi trường mới có 1 khu chính và 5 điểm lẻ. Hội đồng giáo viên đa số là giáo viên lớn tuổi, số khác là giáo viên trẻ có con nhỏ và giáo viên ở độ tuổi sinh đẻ. Vì thế, cô đã tình nguyện đăng ký dạy ở điểm thôn Tây xa nhất của trường. Muốn đến điểm dạy thì phải đi bộ 15km từ điểm chính trên con đường lầy lội, trơn trượt, dốc đá quánh đặc bùn đất như muốn khóa chân người. Đường đi dốc đá rất khó khăn nhất là những ngày mưa to gió lớn, nhiều lúc chỉ cần vô ý sẩy chân là mất mạng vì đường đi nằm vắt vẻo trên sườn núi, phía dưới là vực thẳm sâu hun hút. Con đường này khi nắng thì “hòn đá nổi” làm trượt bánh xe, khi mưa thì lầy lội vì vậy muốn đi xe thì việc ngã là cơm bữa.

Nơi đây thường xuyên mây trắng giăng mờ, sương mỗi lúc một dày, những đám sương sà sát mái trường rồi từng luồng đi qua, ngay giữa lưng đồi nhiều em học trò đi dưới màn sương trắng xế chiều, len lỏi trong những màn khói. Cơ sở vật chất nơi đây khá nghèo nàn, trường lớp đơn sơ, với cái nắng gay gắt, cái mưa giông xối xả, làm cho xứ sở nơi đây càng thêm ảm đạm. Các em học sinh tại điểm trường này đều là người đồng bào dân tộc Kor sinh sống rải rác trên các sườn đồi núi với phong tục tập quán và ngôn ngữ khác biệt. Đa phần các gia đình nơi đây đều có hoàn cảnh khó khăn nên việc học tập của các em chưa được quan tâm khi mà cái ăn, cái mặc còn thiếu thốn. Do đó, khi bắt tay vào giảng dạy, cô luôn gặp trở ngại vì học sinh nói không rõ tiếng phổ thông, nhiều em không qua mẫu giáo, rất nhút nhát, rụt rè trong giao tiếp.

Trước tình hình ấy, cô bắt đầu làm quen với bí thư Chi bộ thôn, thôn trưởng nơi mình công tác để bàn bạc làm thế nào phối hợp nhịp nhàng giữa giáo viên chủ nhiệm, địa phương, gia đình vận động học sinh đi học đầy đủ. Tuần học đầu tiên cô đã họp phụ huynh và nhận được sự thống nhất tuyệt đối theo kế hoạch học tập mà cô đưa ra nhưng qua tuần thứ hai học sinh vẫn vắng học. Cô bắt đầu cùng với Bí thư, thôn trưởng, phân hội trưởng phân hội phụ huynh của lớp cuốc bộ băng rừng, lội suối, leo vách đá cả ngày mang trên lưng mình mì tôm, bánh kẹo, dụng cụ học tập… đến từng nóc, từng nhà nói chuyện, trò chuyện, gần gũi với phụ huynh để tuyên truyền, thuyết phục họ quan tâm, đốc thúc con em mình đến trường. Tuy rằng vất vả nhưng chính từ việc tạo quan hệ thân thiết với bà con thôn bản đã khiến họ tin tưởng và nghe theo cô tạo điều kiện cho con em họ đi học đầy đủ.

Học sinh ra lớp đầy đủ rồi cô bắt đầu dạy chương trình chính khóa, vào những buổi chiều, buổi tối ở lại tăng cường dạy tiếng Việt cho các em, cô đã lựa chọn nhiều phương pháp dạy học để các em cảm thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui, học mà chơi, chơi mà học. Những lúc giải lao, cô lại học hỏi từ các em học sinh tiếng Kor, phong tục tập quán của đồng bào nơi đây để có thể áp dụng giảng dạy song ngữ và cũng là để thân thiết, quen thuộc hơn với nếp sinh hoạt, văn hóa của cư dân nơi đây từ đó đưa ra bài học gần gũi, dễ hiểu hơn với cuộc sống của các em.

Buổi sáng cô là cô giáo, buổi chiều cô là cha, là mẹ, ban đêm cô là chỉ huy một tiểu đội bé nhỏ. Không những thế đôi khi vào thứ 7, chủ nhật cô cũng chẳng được về sum họp với gia đình, nằm ngủ nơi rừng núi hoang vắng không có điện, không có sóng điện thoại để liên lạc khiến cô không sao khỏi chạnh lòng nỗi nhớ chồng con da diết không sao ngủ được. Vào những ngày cuối tuần, nhiều khi cô còn phải ở lại làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, cùng với phụ huynh học sinh cuốc đất, trồng rau để các em ở lại trường có cái ăn. Hơn nữa, tranh thủ những lúc rảnh rỗi, cô trò trồng hoa, trang trí lớp học, giáo dục kỹ năng sống, đạo đức cho các em. Cứ như vậy đám học trò nào mà cô chủ nhiệm ngày nào cũng quấn quýt bên cô, lúc nào cũng: “Cô ơi, cô ăn cơm chưa? Cô ơi, học bài chưa? Cô ơi! Mình đi ngủ hả cô”… Sự yêu mến của các em chính là niềm vui và nguồn động lực để cô quên đi vượt qua nỗi nhớ nhà và muôn vàn khó khăn trong hành trình “gieo chữ” nơi rẻo cao.

Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi, các em học sinh lớp cô đã biết đọc thông viết thạo sau khi hoàn thành chương trình lớp 1. Cứ thế rồi một năm, hai năm trôi qua, phụ huynh nơi đây đều yêu cầu cô giáo Loan ở lại, cô cũng thấy mình không nỡ xa các em học sinh thân yêu. Nhiều lúc thương cô không quản ngại vất vả đến dạy học trên con đường dốc đá lởm chởm, các em còn tìm cách kê hòn đá kênh lại để cho cô dễ đi hơn. Nhìn các em ngây thơ, rụt rè nhút nhát cứ bẽn lẽn nép mình bên cửa lớp, cô lại càng không thể xa nơi này.

Trong 5 năm gắn bó với giáo dục tại điểm lẻ thôn Tây, thành tích mà lớp cô chủ nhiệm đã tiến xa vượt bậc, tỉ lệ học sinh hoàn thành xuất sắc và hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học chiếm đến 70%, nhiều em thi đậu vở sạch chữ đẹp các cấp, đạt học sinh giỏi cấp trường, huyện, tỉnh…Với sự nỗ lực, bản thân cô đã được UBND huyện Trà Bồng và Sở GD&ĐT Quảng Ngãi đã tặng nhiều giấy khen nhiều năm liền.

Thời gian 5 năm trôi qua đối với một người phụ nữ mà nói cũng không quá ngắn nhưng cũng không quá dài nhưng để lại cho cô rất nhiều kỷ niệm mà suốt cuộc đời cô không thể nào quên. Với mong mỏi học sinh nơi đây có thể bắt kịp kiến thức và được tiếp cận tri thức như các trường bạn trong huyện, cô luôn tự hứa lòng mình sẽ đem hết sức lực dạy và chăm sóc để các em có đủ hành trang bước tiếp các bậc học sau này.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Cô Lò Thị Hằng
Thầy Lê Đình Thường