Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Nguyễn Thị Hương Bình

Cô giáo vùng biên và 20 năm “cõng chữ lên non”

Sinh năm 1976, cô giáo Nguyễn Thị Hương Bình đã cống hiến hơn 20 năm cuộc đời cho hành trình “gieo chữ” nơi huyện nghèo vùng biên Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Bằng tình yêu nghề, mến trẻ và nỗ lực không ngừng, cô đã được công nhận danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” và đạt thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2010 – 2015…

Từ khi ra trường, cô giáo Nguyễn Thị Hương Bình đã có hơn 20 năm gắn bó với giáo dục huyện nghèo vùng biên Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Trong đó, cô có đến 7 năm giảng dạy tại điểm trường Na Cạn ở thôn Na Cạn, xã đặc biệt khó khăn Bát Đại Sơn giáp biên giới Trung Quốc. Điểm trường cách trung tâm xã khoảng 6km, đường xá đi lại khó khăn, chủ yếu là đường đất, nếu ngày mưa đi từ trường chính vào điểm trường mất khoảng 2h đồng hồ đi bộ. Địa bàn thôn Na Cạn rộng, dân cư sống rải rác, không tập trung, toàn thôn có 90 hộ trong đó có 68 hộ người H’Mông và 22 hộ người Dao. Đời sống kinh tế của các hộ dân rất thiếu thốn, tỉ lệ hộ đói nghèo cao, toàn thôn có 48/90 hộ nghèo. Điểm trường đóng tại đây cũng rất tạm bợ, lớp học là những căn phòng tường đất, diện tích chật hẹp từ 18-20m2, mái được lợp bằng ngói fibro xi măng. Những năm gần đây, điểm trương mới được các cấp chính quyền quan tâm và đầu tư 4 phòng mái lợp tôn; còn chỗ lưu trú của thầy cô vẫn còn là những căn nhà đất trình tường khoản 10m2, mái lợp fibro xi măng cho 2- 3 giáo viên một phòng. Ở đây nước sinh hoạt đặc biệt thiếu thốn, các thầy cô phải đi bộ vượt hàng cây số mới lấy được nước sinh hoạt về, thời tiết đặc biệt khắc nghiệt nhất là vào mùa đông mây mù, giá rét, có ngày nhiệt độ xuống thấp còn 3 - 4 độ.

Các em học sinh cùng gia đình sống cheo leo trên các sườn núi, hẻo lánh, nhiều em cách xa điểm trường phải đi bộ hàng giờ đồng hồ mới đến lớp học. Cũng chính vì đường xá xa xôi, cách trở mà các em ở đây rất ít được giao tiếp, va chạm xã hội ít, chỉ có số ít biết đến trung tâm xã, biết chợ, cá biệt có em chưa biết đường nhựa, chưa biết ô tô. Vì vậy các em cực kỳ nhút nhát, thiếu tự tin, không dám giao tiếp. Những ngày mới đến trường thầy cô trao đổi, các em chỉ biết im lặng với cảm giác sợ sệt hoặc nói “tao không biết”- ngôn ngữ của học sinh vùng cao mới đến lớp khi chưa được thầy cô trao đổi. Mặt khác vì cuộc sống thiếu thốn nên nhiều cha mẹ và gia đình ít có thời gian chăm sóc cũng như quan tâm đến việc học tập của các em.

Xác định được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với giáo dục ở nơi đây, cô và các đồng nghiệp đã kiên trì xây dựng mối quan hệ tốt với nhân dân cho để tạo lòng tin nơi người dân và trên cơ sở đó thuyết phục, vận động họ quan tâm, đốc thúc con em chuyên cần đến lớp. Bên cạnh việc tham gia họp cùng tuyên truyền đến nhân dân chủ trương chính sách của Nhà nước, cô cùng các đồng nghiệp cũng khéo léo tuyên truyền cho phụ huynh cho con em đi học, cùng tháo gỡ khó khăn đối với mỗi hộ nghèo, chia sẻ, hỗ trợ, phúng viếng đối với mỗi khi gia đình có việc hiếu, hỉ đồng thời tuyên truyền để bà con phần nào giảm bớt hủ tục không cần thiết. Từ đó, người dân dần dần tin tưởng, tạo điều kiện cho con em đi học đầy đủ, hỗ trợ các thầy cô trong quá trình công tác, cuộc sống.

 

Với tình thương yêu học trò, ngoài việc giảng dạy kiến thức trên lớp, cô còn hướng dẫn các em biết cách vệ sinh cá nhân, cắt móng tay, chải đầu, buộc tóc cho các em gái. Tìm hiểu hoàn cảnh từng học sinh để từ đó động viên, chia sẻ có biện pháp giáo dục phù hợp với từng em. Với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, cô đã gần gũi động viên giúp đỡ bằng cách khi thì đi mua, khi thì đi xin, khi thì quyên góp quần áo ấm, giày dép, sách vở cho các em để các em có điều kiện đến lớp. Để duy trì tốt việc học 2 buổi/ ngày đối với các em học sinh nhà ở xa lớp học, cô đã vận động cha mẹ các em góp gạo cùng nấu cơm, cô trò ăn buổi trưa; đi xin chăn gối bố trí cho các em ngủ trưa tại lớp, để chiều các em tiếp tục học.

Hằng ngày cô cùng thầy cô giáo trong điểm trường sau giờ lên lớp tổ chức lao động cải tạo điểm trường: trồng cây xanh, trang trí lớp học, xây dựng thư viện, sưu tầm hướng dẫn các em chơi một số trò chơi phù hợp…tạo bầu không khí trong lớp học thân thiện, khuyến khích động viên học sinh học tập, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp như là múa hát tập thể đầu giờ, giữa giờ, tổ chức cho học sinh đọc truyện… để học sinh chơi mà học, học mà chơi, từ đó các em thích đến trường, đến lớp, đi học đều hơn.

Bên cạnh đó cô không ngừng tìm hiểu, trau dồi đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với các em, làm sao cho các em thấy việc học không hề quá khó, tạo cho các em cảm giác tìm tòi khám phá để khơi gợi hứng thú học hành cho các em. Cô cũng luôn nhận được sự quan tâm của BGH khi giao cho cô những thử nghiệm mang tính mới mẻ, cùng rút kinh nghiệm và hỗ trợ cô tốt hơn trong việc triển khai chương trình tiếng việt công nghệ lớp 1, tổ chức các hoạt động rèn luyện sự bạo dạn tự tin cho học sinh, xây dựng điểm trường, lớp học thân thiện. Sự thành công của lớp cô từ đó nhân rộng sang các lớp khác.

Những nỗ lực và tâm huyết của cô bỏ ra cho giáo dục tại điểm trường Na Cạn đã đem lại một số kết quả tích cực. Trong 3, 4 năm gần đây, lớp cô không có học sinh bỏ học, không có học sinh lưu ban, các em đều chăm ngoan, mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Điểm trường cô nói chung và lớp 1 cô chủ nhiệm nói riêng kể cả những ngày mưa gió rét mướt luôn luôn đảm bảo sĩ số học sinh. Điểm trường nơi cô công tác cũng được ban giám hiệu nhà trường, các Đoàn của Phòng Giáo dục Đào tạo, Sở Giáo dục Đào tạo thăm kiểm tra và đánh giá rất cao trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục cũng như rèn luyện các kỹ năng cho học sinh.

Sau hơn 20 năm gắn bó với giáo dục vùng biên, cô Nguyễn Thị Hương Bình đã được công nhận danh hiệu “Lao động tiên tiến” năm học 2011 – 2012, 2012 – 2013; “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” năm học 2013 – 2014, 2014 – 2015 và được giấy khen đạt thành tích xuất sắc của Chủ tịch UBND huyện trong phong trào thi đua 45 năm ngày Bác Hồ gửi lá thư cuối cùng cho ngành giáo dục và phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2010 – 2015. Những thành tích này là sự ghi nhận xứng đáng cho tâm huyết, tình yêu nghề, yêu thương học trò nơi mà cô đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình để thực hiện sứ mệnh “trồng người” ở nơi biên cương, địa đầu của Tổ quốc.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Cô Lò Thị Hằng
Thầy Lê Đình Thường