Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Lò Thị Hằng

Cõng chữ lên non

Với quyết tâm “cõng chữ lên non”, cô Lò Thị Hằng, giáo viên Trường mầm non Chiềng Công, huyện Mường La (Sơn La) đang ngày đêm bám trường, bám lớp, thường xuyên tuyên truyền, vận động đến các bậc phụ huynh tạo điều kiện cho con, em đến lớp...

Chiềng Công là xã vùng III đặc biệt khó khăn của huyện Mường La cách trung tâm huyện 45km, đường đi lại khó khăn, địa bàn dân cư rộng toàn xã có 15 điểm trường khoảng cách giữa các bản xa nhau. Xã Chiềng Công có hai dân tộc anh em sinh sống chủ yếu là dân tộc Mông và La Ha, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương còn khó khăn người dân sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy. Nền kinh tế của xã thu nhập thấp, đa số phụ huynh là dân tộc H Mông phong tục tập quán còn lạc hậu chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em. Một số phụ huynh chưa cho con em đến lớp.

Gieo chữ nơi bản xa

Chia sẻ với chúng tôi, cô Lò Thị Hằng cho biết, sinh ra và lớn lên từ vùng đất Sơn La giàu truyền thống cách mạng, với biết bao câu chuyện về những vị lãnh tụ mạng xuất sắc như: Tô Hiệu, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Lương Bằng... Nghĩa trang nhà tù Sơn La hiện là nơi yên nghỉ của 30 chiến sỹ từng bị giam giữ và hy sinh tại nhà tù Sơn La; trong đó, có liệt sỹ Tô Hiệu và Lò Văn Giá. Từ khi được đi học, cô Hằng luôn tâm niệm một điều là sau này mình sẽ làm gì đó đóng góp cho chính mảnh đất quê hương này. Điều đó được hiện thực hóa khi năm 2006 cô thi đỗ vào trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc – khoa giáo dục mầm non. Đến năm 2008 nhận tấm bằng sư phạm mầm non về tỉnh và được phân công lên công tác tại Trường Mầm non Chiềng Công,  xã Chiềng Công, huyện Mường La - tỉnh Sơn La, lớp đầu tiên cô dạy là lớp Mẫu giáo ghép Bản Mạo, cách trung tâm xã gần 10km. Người Chiềng Công chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, cái đói cái nghèo còn đeo bám, cái bụng còn chưa no thì chuyện học chữ cũng không được người ta mặn mà. Việc đầu tiên của những người cắm bản là đi vận động học trò đến lớp. Khó khăn, nhọc nhằn xếp chồng chất nhưng dường như tình yêu nghề, trái tim thương lũ học trò đã không làm nản lòng cô giáo mầm non này.

 

Dạy ở đây được 1 năm, cô Hà được cử về dạy lớp Mẫu giáo ghép Bản Chông Du Tẩu, nơi đây còn xa và heo hút hơn, nhưng trong chuyến hành trình gieo chữ dường như cái khó, cái khổ đã được đổi bằng cả trái tim yêu thương học trò, dân bản của cô giáo trẻ này. Từ đó đến nay, mỗi năm cô lại được chuyển tới dạy một lớp mầm non ở bản trong xã, hiện tại cô đang giảng dạy tại lớp Mẫu giáo Lớn Bản Đin Lanh.... Cũng chính những điều đó lại càng giúp cô Hằng nhiệt huyết hơn với cái nghiệp trồng người của mình. Việc dạy cho trẻ vùng cao không đơn giản khi bất đồng ngôn ngữ và trình độ của các em còn nhiều hạn chế, thế nhưng cô đã luôn tận tình, cố gắng hết khả năng của mình để dìu dắt học trò.

Bản thân cô đã xác định rõ nhiệm vụ trong công tác giảng dạy, luôn nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ. Bên cạnh đó, cô luôn cố gắng tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của bậc học Mầm non, đồng thời vận động trẻ đến lớp đúng độ tuổi, tuyên truyền tới các bậc phụ huynh nơi công tác về chính sách, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, luôn gần gũi với các cháu học sinh đẩy mạnh phát triển phong trào giáo dục.


Vì những mầm non tương lai

Điều để lại ấn tượng với cô nhất là bản Hán Cá Thệnh là bản xa nhất của xã Chiềng Công cách trung tâm 30 km, bằng đường đất, trời mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn, phải đi bộ từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ mới tới trường. Từ khi lên nhận lớp chỉ có 15 cháu, lớp học tạm bợ lợp bằng những tấm gỗ, mưa thì dột, nắng thì chói, đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học còn thiếu thốn. Bàn ghế thì chưa đúng quy cách của bậc học mầm non; không có điện, sóng điện thoại, thiếu nước sinh hoạt, phải đi lấy nước xa trường, nhà ở của giáo viên thì trật hẹp, vách được quây bằng gỗ thưa thất. Điều kiện, thời tiết sương mù quanh năm, nhiệt độ thấp, phải mặc áo rét. Song, điều kiện kinh tế người dân lại khó khăn, nên việc chăm lo, ăn học cho con em gặp khó. Nhiều cháu không có áo ấm đến lớp, ăn mặc phong phanh vào những ngày giá rét, đi học bằng những đôi chân trần. Nếu như các cháu ở thành phố, thị trấn được cha mẹ đưa đón bằng phương tiện, thì các em ở nơi đây thường phải tự đến lớp, đứa lớn dìu đứa bé đi từ 2-3 km mới tới lớp bằng đường núi dốc. Đó là những ngày thuận lợi, song gặp những ngày mưa, các cháu không thể tự đi đến lớp được, nên việc duy trì sỹ số trở thành bài toán khó giải. Bởi vì Trường không có nhà ăn bán trú cho các cháu, nhất là tại bản Hán Cá Thệnh. Đời sống của bà con do còn nặng tính tự cung, tự cấp, mùa nào thức nấy, các cháu ăn uống sơ sài… Không chỉ các cháu, đời sống sinh hoạt của giáo viên nơi đây cũng gặp không ít khó khăn trong việc sinh hoạt hằng ngày, sống xã nhà, tự lập, thường xuyên thiếu thông tin văn hóa, xã hội; các nhu yếu phẩm, phải thay phiên nhau xuống huyện mua thực phẩm dự trữ cho cả tuần.

Để khắc phục những khó khăn kể trên, ngoài sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền sở tại, bên cạnh đó bản thân cô luôn làm tốt công tác chủ nhiệm, nâng cao chất lượng giảng dạy, phát triển vốn tiếng việt cho trẻ, làm tốt công tác hai chiều là: nhà trường với gia đình và ngược lại; không quản ngại khó khăn đến từng gia đình phụ huynh, được chứng kiến tận mắt cuộc sống của bà con trong bản và những thiệt thòi mà các cháu nhỏ nơi đây phải gánh chịu, bản thân thấy trách nhiệm của người giáo viên ngày càng lớn. Những cháu nhỏ nơi đây cần có thầy cô dạy dỗ, chính tình cảm của các cháu đã níu giữ cô với vai trò là một giáo viên, bản thân luôn có quan điểm không những truyền đạt kiến thức mà còn phải dạy cả con tim, bằng cả tấm lòng. Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn bằng cách học hỏi sách báo, thông tin đại chúng, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, bản thân cần phải kiên trì, nhẫn nại, phải cố gắng rất nhiều, có những lần tôi đến nhà các cháu, bố mẹ bắt ở nhà trông em, tôi đã vận động mãi họ mới cho đi học và bây giờ đã khác, họ tin tưởng cô, yêu quý cô đã dạy cho con họ “có cái chữ”.... từ những điều đó làm cho mối quan hệ giữa gia đình và cô giáo trở nên gắn bó hơn, được phụ huynh tin tưởng dễ dàng chia sẻ với giáo viên, giúp đỡ giáo viên khi khó khăn.

Ngoài gia, với tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, cô đã vận động và cùng các cô giáo đã ủng hộ quần áo ấm cho các cháu....; với cô được“cõng chữ lên non”, được ngày đêm bám trường, bám lớp, thường xuyên tuyên truyền, vận động đến các bậc phụ huynh tạo điều kiện cho con, em đến lớp duy trì sỹ số; bằng sự nỗ lực, tinh thần nhiệt huyết của mình, yêu nghề, mến trẻ, tất cả vì những mầm non tương lai của đất nước.

Vì có những đóng góp trong việc giảng dạy, từ năm 2009 đến nay cô Hằng luôn nhận được Bằng khen của UBND huyện Mường La và Liên đoàn Lao động huyện Mường La.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Thầy Lê Đình Thường
Cô Tạ Thị Thanh Huyền