Gương giáo viên tiêu biểu

Cô Chu Thị Thu Hường

Cô Chu Thị Thu Hường

17 năm hạnh phúc “gieo chữ trên ngàn”

Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cô giáo Chu Thị Thu Hường xung phong lên giảng dạy ở các huyện nghèo tỉnh Bắc Kạn. Nhiều năm liên tiếp đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Giáo viên dạy giỏi” cấp huyện, cấp tỉnh, cô Hường coi 17 năm “gieo chữ trên ngàn” là quãng thời gian hạnh phúc nhất bởi cô đã cống hiến hết mình dìu dắt bao thế hệ học trò mở ra cánh cửa tri thức, hiện thực hóa ước mơ.

Tháng 5/1998, tốt nghiệp trường Trung học sư phạm Thái Nguyên, với khát vọng đem ánh sáng văn hóa tới vùng cao, cô gái trẻ Chu Thị Thu Hường đã xung phong lên công tác ở huyện Ba Bể - một huyện miền núi xa xôi nhất của tỉnh Bắc Kạn.

Chặng đường đến nơi cô công tác dài hơn 200 km, chỉ thấy đèo cao và vực thẳm đã khiến cô gái vừa tròn 22 tuổi hình dung ra cuộc sống nơi đây thật nhiều khó khăn, vất vả. Cuộc sống của đồng bào dân tộc nơi này quanh năm suốt tháng chỉ biết lên nương phát rẫy, trồng trỉa. Ở miền xuôi, ban đêm đèn canh, đèn đỏ cứ nhấp nháy như ánh sao sa, ánh điện sáng trưng soi rõ từng đường làng, ngõ xóm. Ấy vậy mà ở mảnh đất này, ban đêm chỉ thấy ánh đèn dầu le lói thấp thoáng dưới những nếp nhà sàn.

Ngôi trường mà cô đặt chân đến đầu tiên là trường tiểu học Bộc Bố của huyện Ba Bể. Cách trung tâm huyện lị gần 40km, con đường đất sỏi gập ghềnh đã đưa cô qua suốt chiều dài triền núi đá. Một bên là vực thẳm, một bên là vách đá dựng đứng, cheo leo. Ngồi trên xe ô tô phải mất hơn 6 tiếng đồng hồ mới tới nơi. Những lần mưa gió, đường sạt lở, xe không thông, nếu ra huyện họp thì phải đi bộ một ngày đường. Con đường để cô gieo chữ trên ngàn vô cùng gian nan vất vả.

Năm học 1998 – 1999, cô được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2A – Phân trường Nà Lẩy. Nơi này nằm cách điểm trường chính 5km, từ trung tâm đi bộ vào điểm trường mất hơn 3 tiếng đồng hồ. Phân trường Nà Lẩy chỉ có một lớp học diện tích khá chật hẹp, mái lá xiêu vẹo trông chẳng giống lớp học chút nào. Nhớ lại thuở ban đầu ấy, cô Hường tâm sự: “Mấy ngày đầu đến nhận công tác, mình thấy buồn thật sự, nhớ nhà, nhớ quê, nỗi nhớ chìm cả vào giấc ngủ. Nhưng mình chợt giật mình tỉnh giấc khi nghĩ về các em thơ đang ngày ngày cắp sách đến trường và thấy tiếng lòng thổn thức một quyết tâm, khát vọng cõng chữ lên non được nung nấu từ lúc còn đi học. Mình phải làm một cái gì đó để giúp các em có môi trường học tập tốt hơn, để tiếp thu kiến thức và xây dựng quê hương thoát đói nghèo, lạc hậu”.

Nghĩ là làm, cô Hường đã tham mưu với già làng, trưởng bản dựng lại lớp học cho khang trang rộng rãi hơn để các em có chỗ học, chỗ chơi. Chưa đầy một tháng, dân bản đã bắt tay vào việc dựng trường, dựng lớp. Lớp học lúc đó chỉ có 12 học sinh là con em dân tộc Sán Chí.

Khi đã có môi trường học tập tốt hơn, cô Hường lại vấp phải vấn đề bất đồng ngôn ngữ với các học trò. Cô nói gì trò chẳng hiểu, trò nói sao cô cũng chẳng hay. Đã vậy, các em lại thường xuyên nghỉ học, thích đi chăn bò hơn học chữ, đặc biệt ngày chợ không có một trò nào đến trường. Với khó khăn đó, cô phải bắt tay vào cuộc vận động học sinh trở lại trường, mặt khác tôi thường xuyên phối hợp với già làng tổ chức họp phụ huynh để tuyên truyền vận động cho con em đi học. Ngoài ra, cô Hường cũng chủ động thường xuyên gần gũi với các em, tổ chức các nhóm bạn giúp nhau trong học tập, hàng tháng có nhận xét, đánh giá và khen thưởng để động viên các em. Nhờ những việc làm thiết thực đó, các em đã có hứng thú trong học tập, đi học đều đặn, đúng giờ và không còn tình trạng bỏ học như trước. Cùng với việc dạy học sinh, ban ngày cô Hường còn giúp dân bản tăng gia sản xuất, buổi tối cô tổ chức dạy xóa mù chữ cho dân bản. Thông qua việc dạy chữ, cô đã giúp họ xóa đi lối sống lạc hậu, biết trồng trọt, chăn nuôi, biết đến việc kế hoạch hóa gia đình. Phụ huynh và học sinh đã đặt lòng tin và coi cô như người con của bản làng.

Năm học 2003 – 2004, cô Hường được thuyên chuyển về điểm trường Lủng Vài thuộc trường Tiểu học Nghiên Loan, huyện Pác Nặm. Điểm trường này là nơi học tập của con em dân tộc H’Mông. Lại một thách thức nữa với cô về ngôn ngữ, tiếng H’Mông khó nói và khó nhớ, cô phải dùng phiên dịch một tháng mới biết chút ít. Lớp học có 6 học sinh nhưng là 6 độ tuổi khác nhau, em lớn nhất 15 tuổi, hôm đi hôm nghỉ, thậm chí nghỉ để đi hỏi vợ. Vì vậy, cô Hường vừa vận động học chữ, vừa tuyên truyền, thuyết phục để không xảy ra nạn tảo hôn trong bản. Bao nhiêu khó khăn chồng chất nhưng nhờ sự kiên trì quyết tâm bám bản, với lòng yêu nghề cô đã gây dựng được lòng tin ở dân, ở bản làng… Nhớ lại những năm tháng ấy, cô xúc động tâm sự: “Kỷ niệm sâu sắc nhất mà mình nhớ mãi đến tận giờ đó là ngày thi học kỳ I năm ấy, buổi trưa các em không về mà ở lại trường, chiều làm bài thi môn Toán, thương các em quá, mình và cô bạn đồng nghiệp đã bắc bếp thổi cơm cho các em ăn. Bữa cơm hôm ấy chỉ có bát canh rau cải nương và ba con cá mắm mặn. Thực đơn chỉ có vậy mà đứa học trò nào cũng ăn ngon lành, miệng vừa nhai cơm vừa cười tít cả mắt. Nụ cười hồn nhiên vô tư và trong sáng ấy dường như chưa cảm nhận được sự khốn khó bao giờ. Ở thành phố, lứa tuổi này các em được ăn ngon, mặc đẹp, biết đến rạp hát, công viên. Cả những con đường đến trường của các em mượt mà như trải thảm. Còn nơi đây, những thứ mà các em biết đến lại vô cùng giản dị và rất đỗi đời thường. Cô thương trò dù nghèo mà vẫn hiếu học. Trò quý cô bời cô xa quê cõng chữ lên non. Mặc dù ngày đó đồng lương còn ít ỏi nhưng thương trò nên mình vẫn dành cho các em sự quan tâm đặc biệt, khi thì cái bút, quyển vở, khi thì bộ quần áo nhờ sự quyên góp mà có, mình đã dành cả cho các em. Tất cả tình cảm cô trò gói gọn cả vào trong đó”.

Năm học 2011 – 2012, cô Hường chuyển về công tác tại đơn vị mới, các em học sinh Lủng Vài buồn mà không dám khóc vì sợ xấu hổ. Phụ huynh người nào cũng mang quà cho cô giáo dù đó là củ sắn, bắp ngô. Những món quà lớn nhất là cái nắm tay nồng ấm tình người mà chẳng bao giờ cô quên được.

Phân trường Bản Váng thuộc trường tiểu học Địa Linh, huyện Ba Bể là nơi cô nhận công tác từ năm 2011 đến nay. Cuộc sống của đồng bào Dao nơi đây cũng chẳng khá hơn gì. Cô bắt gặp những hình ảnh quen thuộc của các em học trò nghèo tóc vàng cháy nắng, nhiều em chẳng đủ cơm ăn lại thiếu manh áo ấm, nhưng hàng ngày vẫn đi bộ, leo núi, vượt dốc đến trường. Cảm động trước sự ham học của các em, cô đã vận động quyên góp được 50 bộ quần áo giúp các em có thêm áo ấm đến trường. Hàng ngày, những bữa ăn trưa cô cùng các đồng nghiệp nấu ăn tại trường và bớt một phần thức ăn chia sẻ với các em, để các em có thêm nghị lực đến với cái chữ.

Khó khăn thiếu thốn là vậy song nhiều năm trôi qua, cô vẫn bám trường, bám lớp. Vượt qua bao gian nan thử thách của cuộc sống hàng ngày, thậm chí chấp nhận hy sinh cả hạnh phúc riêng tư để trụ vững trên bục giảng, mang từng con chữ đến với con em đồng bào các vùng dân tộc thiểu số ở các bản làng vùng cao. Ngoài lòng yêu nghề, yêu đời, yêu người vùng cao, còn một lý do khiến cô nặng lòng với mảnh đất gian khó chính là lòng ham học của các em.

Hơn mười bảy năm công tác, thế hệ học trò mà cô dìu dắt buổi ban đầu ấy giờ đã trưởng thành. Bao nhiêu thế hệ qua đi là bấy nhiêu kỉ niệm, thế hệ học trò nào cũng để lại trong cô những dấu ấn sâu sắc về tình cô trò đẹp đẽ mà dung dị. Bạn bè đồng nghiệp cùng trang lứa với cô hồi đó cùng gieo chữ trên ngàn giờ đã về quê, về với gốc rễ cội nguồn. Riêng cô vẫn hạnh phúc “cắm bản”, tiếp tục ươm mầm gieo hạt, gieo vào triển núi đá của bản làng những mầm xanh của đất nước.

Nhờ những nỗ lực, tâm huyết “gieo chữ trên ngàn” của cô, giờ đây, đã có không ít những học sinh ở vùng khó khăn này đã bước tới cổng trường đại học và quay về quê công tác. Để ghi nhận công sức, thành quả này, UBND huyện Ba Bể, huyện Pác Nặm đã nhiều năm liên tiếp trao tặng cô giấy khen “Lao động tiên tiến” từ 2003 – 2014; “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” năm học 2014 – 2015. Cô cũng đạt danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi” cấp tỉnh do Giám đốc Sở GD-ĐT Bắc Kạn, cấp huyện do Phòng GDĐT Pác Nặm, Ba Bể trao tặng từ 2005 – 2015. Với sự nhiệt thành tham gia công tác Đoàn- Đội, cô cũng nhận được giấy khen Đoàn viên công đoàn xuất sắc năm học 2006 – 2007, năm học 2010 – 2011; giấy khen đạt thành tích xuất sắc trong công tác Đội và phong trào thiếu nhi từ 2008 – 2010; trong hoạt động công đoàn từ 2013 – 2015; trong công tác nữ công từ 2008 – 2010… Nhưng có lẽ đối với cô Hường và nhiều thầy cô đang hàng ngày “cắm bản”, “bám trường” thì sự ghi nhận lớn nhất chính là được nhìn thấy các học trò của mình trưởng thành, thành công thoát nghèo đói, lạc hậu để họ tiếp tục vững tâm trên con đường “gieo chữ trên ngàn” mà họ đã lựa chọn gắn bó cả cuộc đời.

Các giáo viên tiêu biểu khác

Cô Trần Thị Bình
Thầy Lường Văn Thọ
Thầy Lò Văn Xuân
Cô Lò Thị Hằng
Thầy Lê Đình Thường